Hỏi & Đáp

Home/Hỏi & Đáp

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định số 52/2006/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (“Nghị định 52”) thì TPCĐ là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của cùng một tổ chức phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành. TPCĐ có thể là trái phiếu có bảo đảm hoặc trái phiếu không có bảo đảm.

Trái phiếu được bảo đảm theo các phương thức: (i) Bảo lãnh thanh toán của các tổ chức tài chính, tín dụng; (ii) Bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành; (iii) Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.

Trái phiếu doanh nghiệp có mệnh giá tối thiểu là 100.000 đồng. Các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đồng.

Thời hạn chuyển đội trái phiếu do tổ chức phát hành xác định và công bố công khai cho các nhà đầu tư biết khi phát hành trái phiếu.

Doanh nghiệp phát hành trái phiếu quyết định lãi suất trái phiếu cho từng đợt phát hành. Lãi suất trái phiếu có thể xác định cố định cho cả kỳ hạn trái phiếu hoặc thả nổi trên thị trường. Trường hợp phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi, tổ chức phát hành công bố mức lãi suất tham chiếu để làm căn cứ xác định lãi suất phải trả cho người sở hữu trái phiếu.

Trái phiếu được thanh toán lãi theo các phương thức: (a) Thanh toán lãi định kỳ; (b) Thanh toán lãi ngay khi phát hành; (c) Thanh toán một lần cùng với tiền gốc khi đến hạn.

Tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu do tổ chức phát hành xác định tại thời điểm phát hành. Tại thời điểm thực hiện chuyển đổi trái phiếu, giá cổ phiếu biến động vượt quá biên độ biến động giá cổ phiếu được công bố khi phát hành trái phiếu, chủ sở hữu doanh nghiệp có quyền điều chỉnh tỷ lệ chuyển đổi trái phiếu cho phù hợp.

Điều kiện để doanh nghiệp phát hành phát hành TPCĐ: (i) Là công ty cổ phần (ii) Có thời hạn hoạt động tối thiểu là 01 năm kể từ này doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động; (iii) Có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; (iv) Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề phát hành trái phiếu có lãi; (v) Có phương án phát hành TPCĐ được đại hội đồng cổ đông thông qua.

Trả lời:

Về nguyên tắc, đối với công ty niêm yết hoặc công ty chưa niêm yết đều có hai hình thức chào bán cổ phần cơ bản là chào bán cổ phần ra công chúng và chào bán cổ phần riêng lẻ. Pháp luật không quy định về tỷ lệ số vốn mà DN muốn phát hành thêm cũng không giới hạn số vốn mà DN được phép tăng trong 1 năm. Doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng các quy định đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán riêng lẻ.

Để chào bán cổ phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Luật chứng khoán 2006:

Hiện tại không có quy định cụ thể về khoảng cách giữa các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng để tăng vốn Điều lệ.

Để chào bán chứng khoán riêng lẻ, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 8 của Nghị định 01/2010 của Chính phủ về Chào bán cổ phần riêng lẻ.

Về khoảng cách giữa các đợt chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn Điều lệ:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 8 Nghị định 01/2010, các đợt chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn Điều lệ phải cách nhau ít nhất sáu tháng. Vi phạm quy định này, việc chào bán sẽ bị coi là vô hiệu và không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận tăng vốn điều lệ.

Đặc biệt, vi phạm quy định về hồ sơ, điều kiện và tổ chức việc chào bán cổ phần riêng lẻ sẽ bị phạt từ 30 – 100 triệu đồng.

Tuy nhiên Nghị định 01/2010 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 02 năm 2010. Do vậy, trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, pháp luật không có quy định cụ thể nào về việc chào bán cổ phần riêng lẻ. Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của doanh nghiệp được thực hiện theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật chứng khoán 2006.

Trả lời:

Bộ Tài Chính ban hành Thông tư 09/2010/TT-BTC (“Thông tư 09”) hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ngày 15/1/2010 và có hiệu lực kể từ ngày 1/3/2010, Thông tư 09 sẽ thay thế thông Tư 38/2007/TT-BTC (“Thông tư 38”). Đối với sự kiện biến động giá cổ phiếu (tăng hoặc giảm liên tục) từ sau ngày 1/3/2010 sẽ phải tuân theo các quy định về việc giải trình và công bố thông tin của Thông tư 09, còn trước ngày 1/3/2010 vẫn sẽ tuân theo các quy định của Thông tư 38.

Cụ thể, trước ngày 1/3/2010, căn cứ khoản 3 Mục IV Thông tư 38, việc giải trình liên quan đến sự kiện biến động giá cổ phiếu của tổ chức niêm yết phải được thực hiện trong vòng 24h khi có yêu cầu của Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước (“UBCKNN”), Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM hoặc Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (trước đây là Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội) (gọi tắt là “SGDCK”), nội dung phải nêu rõ sự kiện được UBCKNN, SGDCK yêu cầu công bố, nguyên nhân, mức độ xác thực của sự kiện đó (Khoản 3.2 Mục IV Thông tư 09).

Kể từ ngày 1/3/2010, căn cứ khoản 2.1.6 Mục IV Thông tư 09, khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 05 phiên liên tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường hoặc giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp trở lên, tổ chức niêm yết phải yết phải công bố các sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu.

Ngoài ra, khi có thông tin liên quan đến tổ chức niêm yết ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó thì tổ chức niêm yết cũng phải công bố thông tin về nội dung này (Khoản 3 Mục IV Thông tư 09) và nêu rõ sự kiện yêu cầu công bố, nguyên nhân, mức độ xác thực của sự kiện đó.

Trả lời:

1. Đối với thủ tục đăng ký niêm yết cổ phiếu, khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, công ty nộp hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Chứng khoán cho HOSE, bao gồm:

  • Giấy đăng ký niêm yết cổ phiếu;
  • Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua việc niêm yết;
  • Sổ đăng ký cổ đông được lập trong thời hạn một tháng trước thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết;
  • Bản cáo bạch;
  • Cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo;
  • Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có);
  • Giấy chứng nhận của Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLK) về việc cổ phiếu của tổ chức đó đã đăng ký lưu ký tập trung.

Theo đó, trong nội dung hồ sơ đăng ký niêm yết, công ty phải xác định vốn điều lệ của công ty vào thời điểm niêm yết và số lượng cổ phần đăng ký niêm yết và đồng thời phải lưu ký số lượng cổ phần đăng ký niêm yết đó với TTLK.

2. Đối với thủ tục chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu cũng đồng nghĩa với (i) Công ty phát hành thêm cổ phiếu cho trái chủ; (ii) tăng vốn điều lệ; (iii) sửa đồi điều lệ Công ty do tăng vốn điều lệ. Vì vậy, theo quy định của pháp luật, các sự kiện trên phải được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ.

Sau đó, theo quy định tại Quyết định số 15/QĐ-TTLK của TTLK về việc ban hành quy chế thực hiện quyền cho người sở hữu chứng khoán ngày 2/4/2008, Công ty phải thực hiện các thủ tục sau:

  • Thông báo thực hiện quyền và lập danh sách người sở hữu trái phiếu.
  • Thực hiện quyền chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi
  • Phân bổ chứng khoán mới cho nhà đầu tư.

Sau khi chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, vốn điều lệ của Công ty sẽ thay đổi dẫn đến số lượng cổ phần đang lưu hành thay đổi theo. Đồng thời, Công ty cũng phải lưu ký số lượng cổ phần vừa được chuyển đổi từ trái phiếu. Như vậy, công ty không thể đồng thời thực hiện thủ tục đăng ký niêm yết cổ phiếu và chuyển đổi trái phiếu cùng một lúc mà chỉ có thể thực hiện thủ tục chuyển đổi trái phiếu trước hoặc sau khi đã đăng ký niêm yết cổ phiếu của công ty.

Trả lời:

Theo Điều 18(1)(a) Quyết định 87/2007/QĐ-BTC về việc ban hành quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán (“Quyết định 87”) thì người sở hữu chứng khoán đã đăng ký tại TTLK nhưng chưa lưu ký muốn thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán phải lưu ký chứng khoán vào TTLK để giao dịch mua, bán qua SGDCK. Do vậy, Ông không thể chuyển nhượng trực tiếp cho em ông.

Theo Điều 18(1)(b) Quyết định 87 thì TTLK thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán chưa lưu ký không qua giao dịch chứng khoán tại SGDCK, trong các trường hợp sau: biếu, tặng, cho, thừa kế chứng khoán theo qui định của Luật dân sự. Do vậy, giao dịch tặng cho chứng khoán không bắt buộc phải thông qua SGDCK. TTLK sẽ thực hiện việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán cho vợ ông.

Đối với việc lưu ký, Điều 6 Quyết định 16/QĐ – TTLK ngày 02/4/2008 về việc ban hành Quy chế hoạt động lưu ký chứng khoán quy định: “NĐT mở một tài khoản lưu ký chứng khoán duy nhất tại thành viên lưu ký để thực hiện giao dịch các chứng khoán lưu ký tại TTLK trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 22 Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán”. Vì vậy, ông có thể tiến hành lưu ký tại các CTCK

Đối với việc tặng, cho cổ phần, ông cần phải lập Hồ sơ theo Điều 26 Quyết định 14/QĐ – TTLK ngày 02/4/2008 về ban hành Quy chế hoạt động đăng ký chứng khoán, gồm một số tài liệu như sau:

  • Văn bản đề nghị chuyển quyền sở hữu chứng khoán của bên tặng cho nêu rõ lý do và thông tin liên quan của bên được tặng cho;
  • Hợp đồng tặng cho chứng khoán có xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước;
  • Bản sao hợp lệ giấy tờ của cá nhân, tổ chức bên tặng cho và bên nhận tặng cho;
  • Yêu cầu chuyển khoản chứng khoán và văn bản xác nhận số dư, trong đó có cam kết phong tỏa chứng khoán của thành viên lưu ký nơi người chuyển quyền mở tài khoản đối với trường hợp chứng khoán đã lưu ký hoặc bản sao hợp lệ Sổ/Giấy chứng nhận sở hữu chứng khoán của người chuyển quyền đối với trường hợp chứng khoán chưa lưu ký;
  • Tài liệu chứng minh việc đã thực hiện công bố thông tin theo quy định đối với các đối tượng phải thực hiện công bố thông tin khi chuyển nhượng chứng khoán theo quy định của Luật Chứng khoán;

Các tài liệu, giấy tờ liên quan khác (nếu có).

Trả lời:

1. Liên quan đến việc gia hạn nhiệm kỳ của HĐQT và BKS:

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, nhiệm kỳ của HĐQT sẽ là 5 năm, nhiệm kỳ của thành viên HĐQT và BKS không quá 5 năm. Như vậy, Luật doanh nghiệp không đề cập đến việc gia hạn nhiệm kỳ của HĐQT và BKS quá 5 năm.

Khoản 3 điều 121 Luật Doanh nghiệp: “Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà BKS nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì BKS đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi BKS nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ”.

Khoản 2 Điều 109 Luật Doanh nghiệp: “HĐQT của nhiệm kỳ vừa kết thúc tiếp tục hoạt động cho đến khi HĐQT mới được bầu và tiếp quản công việc”.

Như vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 121, Khoản 2 Điều 109 Luật Doanh nghiệp thì HĐQT và BKS được tiếp tục thực hiện nhiệm kỳ của mình trong khi HĐQT và BKS mới được bầu và nhận nhiệm vụ. Điều này có nghĩa rằng, một cách gián tiếp, nhiệm kỳ của BKS và HĐQT được tự động gia hạn mà không cần phải xin phép.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo điểm b Khoản 3 Điều 79 Luật Doanh nghiệp, trong trường hợp nhiệm kỳ của HĐQT đã vượt quá 6 tháng mà HĐQT mới chưa được bầu, thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty, có quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ để bầu HĐQT nhiệm kỳ mới.

2. Liên quan thủ tục bầu HĐQT và BKS:

Nếu Điều lệ Công ty không quy định khác, thì căn cứ điểm d khoản 2 Điều 104 Luật Doanh nghiệp, việc bầu HĐQT và BKS nhiệm kỳ mới phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ chứ không được phép lấy ý kiến ĐHĐCĐ bằng văn bản. Theo Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam thì Quyết định này sẽ được thông qua khi Được số cổ đông đại diện ít nhất 51 % tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận trừ trường hợp Điều lệ quy định khác.

Trả lời:

Quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp, theo đó BKS hoạt động như là một “ban” chứ không phải hoạt động trên tư cách từng thành viên. Hơn nữa khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp có quy định: “Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ Công ty quy định.” Do đó, để xác định: (i) việc vận hành của BKS và (ii) giá trị của Báo cáo của BKS hàng năm chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ năm 2010 như trên, bạn cần phải kiểm tra thêm các điều khoản của Điều lệ Công ty. Nếu Điều lệ Công ty quy định Trưởng BKS có quyền tự mình thông qua báo cáo, thì việc vận hành và lập báo cáo của BKS phải tuân thủ theo quy định đó. Trong trường hợp Điều lệ Công ty không có quy định, thì Bản báo cáo hằng năm của BKS phải do BKS cùng thông qua. Trong trường hợp đó, báo cáo chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ là không phù hợp theo quy định pháp luật, nên không có giá trị pháp lý.

Theo Khoản 1 Điều 123 Luật Doanh nghiệp, BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong khi thực hiện các nhiệm vụ được giao, nên khi phát hiện bản báo cáo trên phản ánh những thông tin không trung thực, bạn cần phải thông báo cho ĐHĐCĐ biết về sự việc trên.

Một trong những quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định cụ thể tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp là thẩm định và trình báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá quản lý của Hội đồng quản trị (“Các Báo cáo”) lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên. Các Báo Cáo này phải được gửi đến BKS để thẩm định chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Trong thời hạn trên, nếu bạn là thành viên BKS mà không nhận được các báo cáo trên, thì có quyền yêu cầu được cung cấp các báo cáo trên để bạn có thể thực hiện nhiệm vụ thẩm định Các Báo Cáo của BKS như luật định.