Theo quy định tại Điều 166 và Điều 187 Bộ luật Lao động, Người lao động (“NLĐ”) cao tuổi là người tiếp tục lao động, làm việc sau độ tuổi 55 đối với nữ và 60 đối với nam. Hiện nay, do đặc thù của một số ngành nghề mà Người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) muốn thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đối với đối tượng này. Một vấn đề được đặt ra là theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, có bất kỳ hạn chế hoặc quy định riêng nào đối với NSDLĐ khi sử dụng NLĐ cao tuổi hay không. Bài viết này của Luật Việt xin được tóm tắt các quy định pháp lý cũng như những vấn đề mà NSDLĐ cần lưu ý khi tham gia quan hệ lao động với đối tượng này.

1. Hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) với NLĐ cao tuổi

Theo quy định tại Điều 186 của Bộ Luật Lao Động (“BLLĐ”) và Điều 6 của Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật Lao Động (“Nghị định 05”), khi NSDLĐ có nhu cầu và NLĐ cao tuổi có đủ sức khỏe theo luật định thì hai bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn HĐLĐ hoặc giao kết HĐLĐ mới.

Một điểm quan trọng mà NSDLĐ cần lưu ý là, HĐLĐ, bao gồm cả HĐLĐ không xác định thời hạn sẽ chỉ đương nhiên chấm dứt đối với trường hợp NLĐ có đủ cả 2 điều kiện về thời gian đóng BHXH bắt buộc và tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật lao động. Để làm rõ hơn, trong trường hợp NLĐ đã có đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu thì HĐLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ sẽ được hiển nhiên xem là chấm dứt theo quy định tại Điều 36.4 của BLLĐ và khi đó NLĐ cũng được xem là người hưởng lương hưu do đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Theo đó, khi NSDLĐ có nhu cầu và NLĐ cao tuổi có đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật thì hai bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn HĐLĐ hoặc giao kết HĐLĐ mới, và công việc được thỏa thuận trong HĐLĐ mới với NLĐ cao tuổi không được là những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của NLĐ cao tuổi.

Đối với trường hợp NLĐ cao tuổi đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định và hai bên đều muốn tiếp tục được làm việc, căn cứ theo các quy định đã nêu, NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận giao kết HĐLĐ mới. Tuy nhiên, một quy định khá quan trọng tại Nghị định 05 (Điều 6.2), khi NSDLĐ không có nhu cầu hoặc NLĐ cao tuổi không có đủ sức khỏe thì cả hai lý do này không phải là cơ sở để cho cả NSDLĐ hay NLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định của pháp luật hiện hành. Vậy với quy định pháp luật như trên thì trong trường hợp công ty không có nhu cầu tiếp tục sử dụng lao động hoặc NLĐ cao tuổi không đủ sức khỏe. NSDLĐ phải thương lượng và thỏa thuận với NLĐ về việc chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 36.3 của BLLĐ. Nói cách khác, NSDLĐ phải đạt được sự đồng ý của NLĐ cao tuổi về việc chấm dứt HĐLĐ.

Bộ Luật Lao Động hiện hành chưa có quy định cụ thể loại HĐLĐ mà NSDLĐ có quyền ký kết với NLĐ cao tuổi. Theo quy định tại Điều 22.3 của Bộ Luật Lao Động: “Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác”. Theo đó, tùy theo tính chất công việc mà NSDLĐ có thể ký loại HĐLĐ phù hợp với NLĐ cao tuồi.

Đồng thời, Bộ Luật lao động không quy định thời điểm cụ thể để chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp này mà chỉ quy định như sau: “Khi người sử dụng lao động không có nhu cầu hoặc người lao động cao tuổi không có đủ sức khỏe thì hai bên thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động”. Trên tinh thần đó, nếu đến thời điểm NLĐ cao tuổi cảm thấy không còn đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc hoặc NSDLĐ không còn nhu cầu sử dụng lao động này nữa thi hai bên tiến hành thủ tục chấm dứt HĐLĐ theo thỏa thuận giữa hai bên.

Trong bối cảnh các quy định của pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể rõ ràng cho trường hợp tiếp tục thực hiện HĐLĐ với NLĐ cao tuổi, nên để vừa đảm tuân thủ đúng pháp luật vừa hạn chế được rủi ro về sức khỏe cho NLĐ trong quá trình làm việc,  NSDLĐ và NLĐ cao tuổi có thể ký kết Phụ lục hợp đồng đối với trường hợp NLĐ cao tuổi đang làm việc cho NSDLĐ hoặc Hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng.

2. Tham gia Bảo hiểm xã hội (“BHXH”)

NLĐ cao tuổi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu và đang thực hiện HĐLĐ thì việc tham gia BHXH, Bảo hiểm Y tế, Bảo hiểm Thất nghiệp vẫn được thực hiện như những NLĐ bình thường khác. Cụ thể:

STT Loại bảo hiểm NSDLĐ NLĐ
1. BHXH 17% 8%
Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 0,5% 0%
2. BHYT 3% 1,5%
3. BHTN 1% 1%
   Tổng cộng  21,5%  10,5%

3. Các nghĩa vụ khác

NLĐ cao tuổi là một trong những NLĐ đặc biệt được pháp luật lao động quy định những chế độ ưu đãi nhằm đảm bảo sức khỏe, bao gồm:

a. Khám sức khỏe ít nhất hai lần một năm(Điều 152.2 của Bộ Luật lao động);

b. NLĐ cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (Điều 166.2 của Bộ Luật lao động).

 Mặc dù pháp luật lao động hiện hành không quy định cụ thể việc rút ngắn bao nhiêu giờ trong tổng thời giờ làm việc của NLĐ cao tuổi khi tiếp tục thực hiện HĐLĐ. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 3.10 của Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 05 năm 2013 quy định một số điều của Bộ Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động, đối với NLĐ cao tuổi thì thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất  một (01) giờ trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu. Dựa vào đó, NSDLĐ có thể tham khảo, cân nhắc khoảng thời gian làm việc của NLĐ sao cho phù hợp để đảm bảo được tình trạng sức khỏe cũng như quyền lợi chính đáng của NLĐ cao tuổi.

Luật Việt hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như người lao động có thêm kiến thức chung về luật lao động để có thể giải quyết được các vướng mắc của mình.