Quan hệ lao động khởi đầu bằng chào đón thân thiện và khát khao cống hiến rơi vào chấm dứt phát sinh tranh chấp là điều không ai mong muốn. Nhưng chấm dứt hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) vi phạm những quy tắc pháp lý chuẩn mực mà pháp luật yêu cầu có thể còn mang đến cái kết đắng về tài chính và uy tín cho doanh nghiệp lẫn người lao động (“NLĐ”).

Bước vào năm 2021, một số quy định mới của Bộ luật Lao động (“BLLĐ”) 2019 sau đây là hành trang không thể thiếu cho những ai muốn tìm “lối thoát” từ HĐLĐ.

Chấm dứt HĐLĐ có NLĐ nước ngoài tham gia

NLĐ nước ngoài gia nhập thị trường việc làm tại Việt Nam ngày càng đông đảo, đòi hỏi sự điều chỉnh cần thiết của pháp luật. Theo đó, nhà làm luật đã quy định bổ sung trường hợp chấm dứt HĐLĐ có NLĐ nước ngoài tham gia. Cụ thể, HĐLĐ đương nhiên chấm dứt khi họ bị trục xuất hoặc hết thời hạn giấy phép lao động. Bởi vậy, doanh nghiệp tuyển dụng người nước ngoài làm việc cần lưu ý, để đảm bảo công việc không bị gián đoạn.

NLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do

Có thể nói, BLLĐ 2019 mang đến thay đổi căn bản trong cách tiếp cận quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ. Thay vì buộc họ phải có lý do luật định để chủ động thoát khỏi quan hệ lao động, từ 01/01/2021, NLĐ có thể đơn phương chấm dứt không cần lý do mà chỉ phải báo trước trong thời hạn nhất định: (1) 45 ngày với HĐLĐ không xác định thời hạn, (2) 30 ngày với HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng, (3) 3 ngày với HĐLĐ dưới 12 tháng.

Thậm chí, họ sẽ có thể không cần báo trước nếu có lý do luật định. Đó phần lớn là lý do đơn phương chấm dứt HĐLĐ cho NLĐ hiện được quy định, bên cạnh 02 lý do mới (nghỉ hưu, doanh nghiệp cung cấp thông tin gian dối để giao kết HĐLĐ). Tuy nhiên, nhà làm luật không còn chấp nhận lý do về hoàn cảnh bản thân, gia đình khó khăn (người thân ốm, đi nước ngoài, chuyển chỗ ở, v.v) hoặc được bầu, bổ nhiệm giữ chức vụ công quyền.

Doanh nghiệp thêm lý do để đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Trái lại, người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) vẫn không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ không lý do như quy định hiện tại. Tuy nhiên, 04 trường hợp được bổ sung trong BLLĐ 2019: (1) NLĐ không quay lại làm việc sau 15 ngày hết tạm hoãn HĐLĐ, (2) đủ tuổi nghỉ hưu, (3) tự ý bỏ việc đủ 05 ngày liên tiếp mà không có lý do chính đáng, (4) cung cấp thông tin gian dối để giao kết HĐLĐ.

Bên cạnh đó, dù phải tuân thủ thời hạn báo trước tương tự NLĐ, doanh nghiệp sẽ lại không cần phải thực hiện nghĩa vụ này với trường hợp (1) và (3) nêu trên.

Chặt chẽ hơn nghĩa vụ của doanh nghiệp sau khi chấm dứt HĐLĐ

Thay thế 7 ngày làm việc khá ngắn ngủi, doanh nghiệp được thu xếp chi trả quyền lợi cho NLĐ trong thời hạn gấp đôi lên đến 14 ngày làm việc sau chấm dứt HĐLĐ.

Đặc biệt, 02 trách nhiệm mới được đặt ra với NSDLĐ : (1) xác nhận thời gian đóng bảo hiểm cho NLĐ; (3) hoàn trả bản chính giấy tờ của NLĐ mà mình giữ; (3) cung cấp và trả phí sao, gửi tài liệu liên quan quá trình làm việc theo yêu cầu của NLĐ. Đây là câu trả lời của nhà làm luật trước hiện tượng phổ biến khi nhiều doanh nghiệp cố tình không thực hiện những trách nhiệm trên nhằm gây phiền hà, khó dễ cho nhân viên đã dứt áo ra đi.