Trong bối cảnh dịch Covid-19 đang căng thẳng, việc sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng hoặc thu hẹp, không ít người lao động phải ngừng việc. Khi đó, doanh nghiệp cần nắm rõ các quy định pháp luật để thực hiện đúng nghĩa vụ chi trả lương và bảo hiểm xã hội (“BHXH”) cho người lao động. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến trường hợp doanh nghiệp áp dụng quy định về ngừng việc trong Bộ luật lao động hiện hành.

Xác định nguyên nhân ngừng việc

Thông qua quy định về việc trả lương khi người lao động phải ngừng việc, Bộ luật lao động 2019 đã chia nguyên nhân ngừng việc ra ba nhóm chính: (i) do lỗi của người sử dụng lao động, (ii) do lỗi của người lao động và (iii) do một số nguyên nhân khách quan. Trong nhóm (iii) đề cập đến trường hợp người lao động phải ngừng việc tạm thời do “dịch bệnh nguy hiểm”.

Covid-19 được xác định là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm và đã được công bố trên phạm vi toàn quốc. Do đó, ngừng việc của người lao động do dịch sẽ được xác định là do “dịch bệnh nguy hiểm”. Theo hướng dẫn của Cục Quan hệ Lao động và Tiền lương, người lao động được coi là ngừng việc do tác động trực tiếp của dịch Covid-19 nếu do:

  • thực hiện cách ly;
  • nơi làm việc hoặc nơi cư trú bị phong tỏa;
  • nơi làm việc phải tạm dừng hoạt động để phòng, chống dịch bệnh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;
  • nơi làm việc không hoạt động được vì chủ doanh nghiệp hoặc đồng nghiệp đang cách ly hoặc chưa quay trở lại làm việc.

Trong những trường hợp khác, doanh nghiệp không nên xem bất kỳ sự ngừng việc nào trong thời gian này là do “dịch bệnh nguy hiểm” mà cần xem xét nguyên nhân cụ thể để xác định nghĩa vụ trả lương cho phù hợp.

Nghĩa vụ của doanh nghiệp

Đối với ngừng việc do Covid-19, doanh nghiệp và người lao động sẽ thỏa thuận mức lương nhưng phải đáp ứng điều kiện tiền lương trong 14 ngày ngừng việc đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Kể từ ngày thứ 15 trở đi, tiền liên ngừng việc hoàn toàn phụ thuộc thỏa thuận hai bên. Tuy nhiên, pháp luật còn đang bỏ ngỏ trường hợp đôi bên không đạt được thỏa thuận về mức tiền lương này.

Đồng thời, doanh nghiệp vẫn phải đóng BHXH cho người lao động nhưng dựa trên mức lương trong thời gian ngừng việc thay vì tiền lương trong hợp đồng lao động. Khi đó, doanh nghiệp cần làm thủ tục điều chỉnh mức lương đóng các chế độ bảo hiểm bắt buộc. Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận không hưởng lương (từ sau 14 ngày ngừng việc đầu tiên), doanh nghiệp không phải đóng BHXH nếu trong tháng đó người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên.

Hỗ trợ từ Nhà nước

Đối với nhân viên phải ngừng việc do phải cách ly y tế hoặc trong các khu vực bị phong tỏa từ 14 ngày trở lên trong thời gian từ 01/5/2021 đến cuối năm và đang tham gia BHXH bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi ngừng việc, Nhà nước sẽ hỗ trợ 1.000.000 đồng/người. Doanh nghiệp cần chuẩn bị các hồ sơ quy định tại Quyết định 23/2021/QĐ-Ttg để đề nghị khoản hỗ trợ này cho nhân viên của mình. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết 31/01/2022.

Doanh nghiệp được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm để trả lương ngừng việc đối với người lao động đang tham gia BHXH bắt buộc phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên từ 1/5/2021 đến hết 31/3/2022. Doanh nghiệp phải không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn.

Ngoài ra, trước khó khăn về tài chính của doanh nghiệp, Nhà nước có các chính sách về việc đóng BHXH của doanh nghiệp và người lao động như sau:

Thứ nhất, áp dụng mức đóng bằng 0% đối với quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ 01/7/2021 đến hết 30/6/2022;

Thứ hai, cho phép tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất 6 tháng tính từ tháng doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị đối với doanh nghiệp phải giảm từ 15% số lao động tham gia BHXH trở lên tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị so với tháng 4/2021. Trong đó, số lao động tham gia BHXH tính giảm gồm: (i) chấm dứt hợp đồng, (ii) tạm hoãn thực hiện hợp động; (iii) nghỉ việc không hưởng lương; (iv) ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng. Sau thời gian được tạm dừng, doanh nghiệp và người lao động phải tiếp tục đóng vào quỹ này và đóng bù cho thời gian tạm dừng (đối với người lao động ngừng việc).