Trong nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động thương mại trên nền tảng số, vừa qua, chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2021/NĐ-CP (“Nghị định 85”) sửa đổi, bổ sung Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (“Nghị đinh 52”). Nghị định mới hướng đến mục tiêu siết chặt các biện pháp quản lý hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam, đặc biệt là đối với chủ thể nước ngoài.

Lấp “kẽ hở” trong quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới

Hiện nay, chủ thể nước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại điện tử nước ta bao gồm các thương nhân, tổ chức có hiện diện tại Việt Nam hoặc có website dưới tên miền Việt Nam. Trong khi đó, Nghị định 52 đã bỏ xót một chủ thể quan trọng trong phạm vi điều chỉnh của mình, đó là thương nhân, tổ chức nước ngoài không hiện diện nhưng có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam.

Khắc phục thiếu xót này, Nghị định 85 quy định điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng bất kể có hiện diện tại Việt Nam hay không, các chủ thể này nếu có hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam đều chịu quản lý của pháp luật nước ta về thương mại điện tử, cụ thể là:

Nhóm 1: Thương nhân, tổ chức nước ngoài có website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam, bao gồm (i) website có tên miền Việt Nam (.vn), hoặc (ii) website có ngôn ngữ hiển thị là Tiếng Việt, hoặc (iii) website có trên 100.000 lượt giao dịch từ Việt Nam trong 01 năm.

Nhóm 2: Thương nhân, tổ chức nước ngoài bán hàng hóa trên sàn giao dịch thương mại điện tử Việt Nam.

Nhóm 3: Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ thương mại điện tử.

Tương ứng với mỗi đối tượng trên, Nghị định 85 cũng đặt ra những điều kiện khác nhau.

Đối với Nhóm 1: Thương nhân, tổ chức nước ngoài phải thực hiện đăng ký hoạt động thương mại điện tử. Đồng thời, tổ chức, thương nhân đó phải thành lập văn phòng đại diện hoặc chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam như là đầu mối để phối hợp với cơ quan chức năng trong việc quản lý các giao dịch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và thực hiện nghĩa vụ báo cáo hàng năm với Bộ Công thương.

Đối với Nhóm 2: Danh tính của thương nhân, tổ chức nước ngoài bán hàng hóa phải được xác thực bởi chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử Việt Nam. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào lựa chọn của chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử, chủ thể nước ngoài phải tự thực hiện việc xuất khẩu, nhập khẩu hoặc chỉ định đại lý thương mại tại Việt Nam; hoặc chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử sẽ là bên thực hiện nhập khẩu hàng hóa theo ủy thác của người mua.

Đối với Nhóm 3: Nghị định 85 cụ thể hóa điều kiện tiếp cận thị trường đối với lĩnh vực dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế, hoặc góp vốn vào doanh nghiệp tại Việt Nam mà không có giới hạn về tỉ lệ vốn sở hữu. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chi phối doanh nghiệp thuộc nhóm 05 doanh nghiệp dẫn đầu thị trường dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam theo danh sách do Bộ Công Thương công bố, quá trình xin cấp, điều chỉnh Giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp phải có ý kiến thẩm định về an ninh quốc gia của Bộ Công an.

Chủ thể thuộc Nhóm 1 và Nhóm 3 được phép thực hiện bổ sung các điều kiện trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Nghị định 85 có hiệu lực (01/01/2022).

Bên cạnh việc siết chặt quản lý chủ thể nước ngoài, Nghị định 85 bổ sung một số quy định áp dụng chung cho các chủ thể hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam, tiêu biểu như:

Minh bạch thông tin hàng hóa, dịch vụ

Việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ không phải là nghĩa vụ mới của người bán sản phẩm trên không gian mạng. Tuy nhiên, Nghị định 85 đã bổ sung các yêu cầu khắt khe hơn, buộc bên bán hàng hóa phải cung cấp thông tin hàng hóa là các nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa như: ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô sản xuất,… và thông tin giấy phép, giấy chứng nhận thể hiện việc đáp ứng các điều kiện kinh doanh trong trường hợp thuộc danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Đưa mạng xã hội vào khuôn khổ pháp lý

Mạng xã hội chính thức được ghi nhận là một hình thức của sàn giao dịch thương mại điện tử nếu có một trong các tính năng (i) cho phép người tham gia được mở các gian hàng để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; (ii) cho phép người tham gia được mở tài khoản để thực hiện quá trình giao kết hợp đồng với khách hàng; (iii) có chuyên mục mua bán, trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ. Với quy định này, hoạt động mua bán trên mạng xã hội không sẽ chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước.