Trong thời đại phát triển công nghệ thông tin như hiện nay, các phương thức giao kết hợp đồng cũng dần được đổi mới từ hợp đồng giấy thông thường sang hợp đồng điện tử vì khả năng tiết kiệm thời gian, chi phí, sự kết nối và trao đổi dữ liệu nhanh chóng, đặc biệt trong thời điểm dịch bệnh, việc gặp mặt trực tiếp đối tác là thứ gì đó “xa xỉ”.

Hợp đồng điện tử chính là “cứu tinh” khi cho phép các doanh nghiệp ký kết hợp đồng từ xa trong thời điểm “ngăn sông cấm chợ” này. Để có thể tận dụng tối ưu công cụ này, doanh nghiệp cần hiểu và nắm khung pháp lý cho việc ký kết, thực hiện hợp đồng điện tử qua các quy định của pháp luật hiện hành.

Hợp đồng điện tử dưới góc độ pháp luật hiện hành

Hợp đồng điện tử có giá trị như hợp đồng truyền thống. Theo quy định tại Điều 33, 34 Luật Giao dịch điện tử 2005 thì “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.” Một số đặc điểm của hợp đồng điện tử khác biệt so với hợp đồng thông thường là:

  • Thể hiện bằng thông điệp dữ liệu điện tử. Theo đó, hợp đồng điện tử được giao kết bằng thông điệp dữ liệu. Việc đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết, nhận, gửi hợp đồng đều được thực hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
    Luật Giao dịch Điện tử quy định các yếu tố liên quan đến thông điệp dữ liệu bao gồm khái niệm người khởi tạo, người nhận thông điệp dữ liệu, thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu… Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu cũng có giá trị pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền thống. Chính yếu tố này cũng tạo ra tính hiện đại, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với hợp đồng truyền thống.
  • Có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể trong giao kết hợp đồng. Trong đó, ngoài bên mua và bên bán còn có các nhà cung cấp các dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử;
  • Phạm vi áp dụng bị hạn chế trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định mới có thể sử dụng hợp đồng điện tử.

Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử

Luật Giao dịch Điện tử đã đặt ra 3 nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử: (i) các bên được thỏa thuận chọn phương tiện điện tử cho hợp đồng, (ii) hợp đồng điện tử phải tuân thủ Luật Giao dịch Điện tử và các quy định áp dụng cho hợp đồng truyền thống, và (iii) các bên được thỏa thuận yêu cầu kỹ thuật, chứng thực và các điều kiện khác để đảm bảo tính toàn vẹn và bảo mật của hợp đồng.

Như vậy pháp luật đã cho các bên cơ hội được thỏa thuận linh động, tự do nhiều yếu tố khác nhau khi giao kết hợp đồng điện tử, giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhiều loại hợp đồng. Tuy nhiên, dù tự do giao kết nhưng không được trái với quy định và đạo đức xã hội. Doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng, khi giao kết hợp đồng điện tử thì đồng thời phải đảm bảo các điều kiện như hợp đồng truyền thống về mặt nội dung, hình thức hay thủ tục đăng ký liên quan với cơ quan nhà nước (nếu có). Chẳng hạn như, hợp đồng lao động điện tử phải có các nội dung bắt buộc theo pháp luật về lao động như thời hạn hợp đồng, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi,…