Ngày13/12/2019|

Bộ Luật Lao Động sửa đổi 2019: những thay đổi nổi bật

Ngày 20/11/2019 Quốc hội đã thông qua Bộ Luật Lao Động sửa đổi năm 2019 (“BLLĐ sửa đổi 2019”), gồm 17 chương, 220 điều, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 với một số nội dung đáng chú ý như sau:

1. LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

i. Mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Bộ Luật Lao Động đối với người làm việc không có quan hệ lao động

Theo đó, đối với các thỏa thuận khác không được định danh là hợp đồng lao động nhưng có nội dung thể hiện về công việc phải làm, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên cũng được xác định là hợp đồng lao động.

ii. Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là hợp đồng lao động bằng văn bản.

Theo đó, ngoài việc tuân thủ Bộ Luật Lao Động, các bên trong hợp đồng lao động còn phải tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 35, 36, 37 Luật Giao dịch điện tử 2005.

iii. Bỏ hợp đồng lao động theo mùa vụ

Theo đó, BLLĐ sửa đổi 2019 quy định hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong hai loại: hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn.

Cụ thể, hợp đồng lao động không xác định thời hạn là loại hợp đồng lao động mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng lao động xác định thời hạn là loại hợp đồng lao động mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng nhưng không quá 36 tháng.

Loại hình hợp đồng lao động theo mùa vụ đã không còn được sử dụng trong BLLĐ sửa đổi 2019.

2. QUY ĐỊNH MỚI VỀ THỬ VIỆC

i. Thời gian thử việc của người quản lý doanh nghiệp không quá 6 tháng

Theo đó BLLĐ sửa đổi 2019 quy định thời gian thử việc kéo dài không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo định nghĩa tại Luật doanh nghiệp 2014.

ii. Chính thức ghi nhận thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động

Quy định tại BLLĐ sửa đổi 2019, nếu có thỏa thuận thử việc thì hai bên giao kết hợp đồng thử việc, hoặc thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động.

Trường hợp việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.

Trường hợp việc làm thử không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

3. BỔ SUNG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC SỬ DỤNG LAO ĐỘNG LÀM THÊM KHÔNG QUÁ 300 GIỜ TRONG 01 NĂM

Theo quy định, số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm.

Theo đó, BLLĐ sửa đổi năm 2019 đã bổ sung một số trường hợp được sử dụng lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm:

  1. Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;
  2. Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn, do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước do hậu quả thời tiết, thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;

4. BÃI BỎ, BỔ SUNG CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

i. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do

BLLĐ sửa đổi 2019 đã bỏ quy định cụ thể các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của BLLĐ hiện hành, thay vào đó người lao động không cần nêu rõ lý do chấm dứt, không cần phải thuộc các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng như quy định hiện hành, chỉ cần báo trước việc chấm dứt hợp đồng lao động trong thời gian quy định.

ii. Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước

Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước khi:

  1. Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
  2. Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn;
  3. Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
  4. Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
  5. Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;
  6. Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định;
  7. Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

iii. Mở rộng thêm các trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng:

  1. Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định mà không cần thỏa mãn thêm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội như BLLĐ 2012 hiện hành.
  2. Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
  3. Người lao động cung cấp thông tin nhân thân sai sự thật khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

5. TĂNG TUỔI NGHỈ HƯU: NAM ĐỦ 62 TUỔI VÀO NĂM 2028, NỮ ĐỦ 60 TUỔI VÀO NĂM 2035

BLLĐ sửa đổi 2019 điều chỉnh nâng tuổi nghỉ hưu với mục tiêu lâu dài để chủ động chuẩn bị ứng phó với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh của Việt Nam.

Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ cho đến năm 2028 thì lao động nam đủ 62 tuổi và đến năm 2035 thì lao động nữ đủ 60 tuổi.

6. THÀNH LẬP TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP

Người lao động có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

BLLĐ sửa đổi 2019 cho phép thành lập các công đoàn độc lập, tức là không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam – công đoàn duy nhất hiện nay. Quy định này góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế ILO, tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập quốc tế.